Nguyễn Đức Cương

http://www.nguyenduccuong.com

Home Sách Bài thi viết về "Biển đảo quê hương"
Bài thi viết về "Biển đảo quê hương" PDF. In Email
Viết bởi Administrator   
Thứ ba, 18 Tháng 12 2012 07:32

HỘI THI

“KỂ CHUYỆN VỀ BIỂN ĐẢO QUÊ HƯƠNG TÔI”

Thí sinh dự thi: Nguyễn Ngọc Mỹ Hạnh – Lớp 311, Trường Tiểu học Phan Chu Trinh, Gò Vấp.

Thưa các thầy cô và các bạn thân mến!

Vừa hân hoan đón mẹ trở về từ chuyến công tác dài ngày tại Miền Trung với bao nỗi mong mỏi, nhớ thương, tôi cứ ngỡ cuối tuần, sẽ được mẹ chở đi chơi, được làm những việc mình thích cùng với mẹ.

Thế nhưng buổi tối, mẹ gọi tôi lại và bảo: “Con gái ngoan, mai ở nhà với bố nhé, mẹ phải đi công tác Hải Phòng”. Tôi ngơ ngác, mếu máo: “Không được đâu, con không đồng ý đâu, mẹ đi xa cả tuần, mới về được mấy ngày, bây giờ lại đi nữa, mà mẹ đi Hải Phòng làm gì vậy?” Mẹ cười nói: “Ừ, mẹ cùng các cô chú ở Ngân hàng Quân đội đi Hải Phòng làm việc với các chú bộ đội Hải quân về chương trình “Góp đá xây dựng Trường Sa”, con ạ!. Ngân hàng của mẹ đóng góp 20 tỉ đồng để xây dựng công trình Nhà văn hóa đa năng trên đảo Trường Sa đấy”. Tôi vùng vằng rồi bật khóc nức nở: “Không! Con không biết Trường Sa ở đâu, con không biết công trình gì hết, con không muốn mẹ đi, con không muốn xa mẹ, mẹ ơi, con nhớ mẹ lắm!”.

 

Mẹ âu yếm ôm tôi vào lòng, nhẹ nhàng vuốt mái tóc tôi và nói: “Con gái yêu của mẹ, con đừng buồn, đừng khóc nữa! Mẹ phải đi, vì đó là nhiệm vụ của mẹ mà. Bây giờ, mẹ sẽ kể cho con nghe những câu chuyện về biển đảo quê hương mình, nghe xong, con sẽ đồng ý cho mẹ đi công tác ngay thôi”.

Ngước đôi mắt nhòe nhoẹt nước, tôi nhìn mẹ, chờ đợi… Bằng chất giọng trầm trầm, ấm áp, mẹ đã kể tôi nghe những câu chuyện về Trường Sa, về biển đảo. Câu chuyện “Bão biển” trong tập truyện “Đảo Chìm” của Nhà thơ Trần Đăng Khoa đã để lại trong tôi cảm xúc và ấn tượng sâu sắc…

“… Buổi chiều hôm ấy ở Đảo Chìm, không hiểu sao, bầy chim biển chui cả vào lều bạt. Chúng rúc vào chăn, chen lấn với lính. Căn lều bạt trở nên chật chội, ướt át và hôi mù. Trên tầng giường, Hai ùm nằm ngáy như sấm. Có lẽ mấy hôm liền căng thẳng vì chuyện con lợn, cu cậu mệt rã rượi. Khoa cũng thấy buồn ngủ. Hai mắt nặng trĩu, cứ luôn chực nhíp lại.

Tiếng động lịch kịch dưới chân sàn làm Khoa thức giấc. Hình như có ai gõ gõ mái chèo vào cột lều. Khoa nhìn qua mặt sàn. Hoá ra là chính trị viên Thuận. Anh vừa đánh xuồng vào.

- Này, ra tàu ngay! Ra tàu ngay đi!

- Có chuyện gì thế, bố Thuận?

- Không thấy gì cả à? Nhìn kia kìa!

Nói rồi, Thuận chỉ ra biển. Mặt biển lặng tờ như cái ao làng. Phía chân trời ậc lên một tầng mây đỏ sọc như màu máu. Biển tanh ngặt. Chết cha. Bão rồi! Thảo nào mà lũ chim biển chui hết vào lều, rúc cả vào chăn lính để ẩn nấp. Vậy mà sao mình lại không để ý nhỉ?

Cánh lính vận chuyển vũ khí, đồ đạc ra tàu. Căn lều vẫn tồng tềnh, trống hoác, nhưng đến khi di chuyển mới hay lính ta cũng giàu có lắm, chứ chẳng phải ít của. Ngổn ngang trăm thứ bà giằn, cứ lỉnh cà lỉnh kỉnh. Nhặt cái này lại thấy tiếc cái kia. Không rõ đến chuyến xuồng thứ mấy thì biển đã cuồn lên những đợt sóng lớn. Mái chèo nặng trịch, bì ra. Dường như cái xuồng không còn tuân theo mái chèo của lính nữa. Khi mũi xuồng vừa chạm thành tàu, Hai ùm chợt bàng hoàng kêu lên:

- Thôi chết tôi rồi! Chết rồi!

- Có chuyện gì thế?

- Còn ba-lô và đồ đạc của thằng Thiêm! Ừ, phải rồi! Đúng là còn "tài sản" của Thiêm. Vậy mà tại sao cả mấy thằng đều không để ý. Mà cũng phải thôi. Cái bát sắt, đôi đũa và chiếc ba lô lại treo mãi trên nóc bạt. Trong lúc cuống cuồng vội vã, ai còn để ý đến cái nóc bạt làm gì. Khoa bảo Hai:

- Không sao đâu, Hai ạ. Mình thấy mọi thứ chằng buộc cẩn thận lắm!

- Đâu có. Em ngoắc cái ba-lô lên con sỏ sắt cọc lều chứ nào có buộc chằng gì. Thằng Thiêm chỉ có mỗi chút đó thôi. Nếu mất, biết nói gì với mẹ nó đây!. Vả lại, còn một tí tư trang ấy, cũng có thể cho vào cái tiểu sành, đắp cho nó ngôi mộ. Vẫn còn chút gì của nó để có thể thắp cho nó một nén hương - Hai nói như van vỉ. - Anh lên tàu đi. Em quay lại...

- Không được đâu. Không kịp nữa rồi!

- Thôi, đừng lằng nhằng nữa! Anh lên tàu đi!

- Hay để mình cùng quay lại...

- Không được! - Hai quắc mắt lên, mặt tím ngắt. - Đã bảo đừng có lằng nhằng nữa. Có ông anh chỉ nặng gánh thêm chứ béo bở gì. Lên tàu!

Hai nói như ra lệnh, rồi ghì xuồng cao su. Con tàu chao lắc. Chiếc xuồng lại càng chao lắc dữ dội. Nhễ nhại lắm, Khoa mới bám được chiếc thang dây, leo lên tàu.

- Hai, lên tàu đi! - Khoa nói như khóc.

- Không được! Không thể được! Nhanh thôi mà. Em sẽ quay lại ngay. Không sao đâu!

Nói rồi, Hai chém nước lao đi. Biển đã cuồn lên những đợt sóng lừng lững như những tấm lưng trâu. Chiếc xuồng cao su của Hai mất hút trong sóng. Con tàu bắt đầu òng ọc nhổ neo. Khoa gào lên:

- Còn thằng Hai. Anh Thuận ơi, còn thằng Hai nữa!

- Còn người! Còn một người nữa!

Tiếng lính nhao nhao. Gương mặt Thuận bỗng trắng bệch. Anh khoát tay ra hiệu cho thuyền trưởng dừng lại. Nhưng con tàu không thể dừng được, vẫn phải nhổ neo, bởi chỉ chậm chút nữa, con tàu sẽ rứt đứt neo và nó có thể sẽ bị sóng ném vào ghềnh đá san hô như một viên sỏi. Biển tối mù mịt. Con tàu quần lượn quanh đảo để tìm Hai. Nhưng rồi vô vọng và bất lực. Với sức sóng này, làm sao Hai có thể đánh xuồng đi được. Ngay cả con tàu mấy ngàn tấn này cũng chỉ như một chiếc lá mỏng mảnh. Loanh quanh một hồi, rồi con tàu cũng đành phải gối sóng để tránh bão. Tránh ngay trên biển bão. Thuận trực tiếp cầm lái bên cạnh thuyền trưởng Hoà. Anh vừa lái, vừa ồ ồ khóc như một đứa trẻ. Kinh nghiệm bao nhiêu năm đi biển cho anh biết số phận bi thảm của Hai sẽ kết cục ra sao? Anh vừa tránh sóng, vừa cố lượn qua những vùng biển mà anh đoán cái xuồng của Hai có thể trôi dạt tới. Từng đợt sóng bạc đầu đổ tràn qua mặt boong. Có trận sóng phủ lên cả nóc đài chỉ huy. Chân vịt khua reng rẻng trong không khí. Mặt biển tối sầm. Gió đánh thốc từng đám mây trắng đục xuống mặt nước đen sịt. Khoa lăn lông lốc trên sàn tàu. Đám lính trẻ cũng nhào lộn trong những bãi nôn tanh lợm. Rồi rầm một tiếng dữ dội. Khoa thấy mình bay vút như một viên đạn, đầu lao choác vào thành tàu tê dại. Nước biển mặn chát trùm lên người Khoa. Vỡ tàu rồi! Trong đầu Khoa chợt loé lên một ý nghĩ kinh hoàng như vậy. Thế là hết. Hết tất thảy. Khoa thấy mình mụ đi. Trong khoảnh khắc âm âm u u, Khoa còn kịp nhận ra mình cùng với con tàu lao hun hút xuống đáy biển tối thẳm và lạnh ngắt...”

Thấy mẹ chợt lặng im, tôi thảng thốt:

- Mẹ ơi, tàu vỡ thật à? Tất cả mọi người đều chìm xuống biển sao?

Giọng mẹ nghèn nghẹn:

- Không, con ạ! Con tàu không vỡ, chắc nó lao vào vách sóng nào đó. Bão tan, mọi người trên tàu vẫn bình an. Con tàu về lại Đảo Chìm để tìm Hai, nhưng chỉ thấy vùng đảo hoang lạnh. Chiếc lều bị gió cuốn mất tấm bạt, căn lều trống hoác, ướt nhoẹt. Đũa bát của Thiêm đã bị gió ném đi. Nhưng chiếc ba-lô lép kẹp, sũng nước thì vẫn lủng lẳng chao lắc trên cái kèo sắt cột lều. Hai đã không vào được lều bạt, thế là thêm một người lính nữa chết ở Đảo Chìm. Người lính ấy đã sống trọn vẹn, chết thủy chung và sẽ không bao giờ trở về với mẹ nữa, thịt xương anh tan vào lòng biển mặn … Sóng vẫn hắt qua mấy khung giường sắt, phủ lên đầu những người lính từng đợt nước mặn chát. Lần đầu tiên, họ mới hiểu vì sao nước biển lại mặn đến thế!. Và có lẽ không ở đâu nước biển mặn như ở Đảo Chìm. Mặn như máu ...

Các bạn có biết không?. Mẹ còn kể cho tôi nghe nhiều, nhiều lắm những câu chuyện về biển đảo Trường Sa, câu chuyện về những người lính công binh Hải quân vác đá xây đảo ở Trường Sa – những địa danh đã đi vào lịch sử như: Nam Yết, Tốc Tan, Tiên Nữ, Trường Sa Lớn… Câu chuyện về cuộc sống vô cùng thiếu thốn của người lính, bốn bề là hiểm nguy, gian khổ ... nhưng các chú bộ đội vẫn kiên cường bám trụ nơi đầu sóng, ngọn gió. Câu chuyện về 64 người con ưu tú của dân tộc Việt Nam đã anh dũng ngã xuống trong cuộc chiến đấu ngày 14/3/1988 bảo vệ đảo Gạc Ma, Len Đao, Cô Lin, bảo vệ vững chắc chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Nỗi đau rồi sẽ nguôi ngoai, những người mẹ liệt sĩ Trường Sa vẫn gửi về nơi tiền tiêu của Tổ quốc một ước vọng duy nhất: Sớm tìm được hài cốt các anh. Biển vẫn trong, trời vẫn xanh vời vợi, nhưng nỗi đau vẫn nhức buốt tâm can người ở lại, những người mẹ vẫn đêm ngày đau đáu nhìn ra biển cả, nơi những đứa con thân yêu của họ đã hòa tan thân xác…

Giọng mẹ chùng xuống, nghèn nghẹt, nước mắt tôi giàn giụa. Tôi ôm choàng lấy mẹ, giụi đầu vào lòng mẹ, thủ thỉ: “Mẹ ơi! Con hiểu rồi, mẹ ạ! Mẹ cứ đi làm nhiệm vụ của mình đi. Con vẫn sẽ rất nhớ mẹ, nhưng con không buồn và giận mẹ vì những chuyến đi xa nữa. Con hứa sẽ chăm ngoan, học thật giỏi, làm thật nhiều việc tốt để cha mẹ và thầy cô vui lòng, xứng đáng với những hi sinh lớn lao của những người lính biển”.

Các bạn thân mến! Đêm hôm ấy, trong vòng tay ấm áp của mẹ, tôi đã có những giấc mơ thật đẹp, thật bình yên. Cảm ơn mẹ với những câu chuyện về Trường Sa hào hùng, một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc, giúp con hiểu thêm về đất nước, về biển đảo, về những người lính biển can trường, dũng cảm, dạy cho con biết giá trị của hòa bình, biết quý trọng hơn cuộc sống yên ấm, hạnh phúc của ngày hôm nay. Và con biết, thế hệ măng non hôm nay, phải làm gì “Vì Trường Sa thân yêu!”. Con yêu mẹ thật nhiều, nhiều lắm, mẹ ơi…! Ánh nắng ban mai đã ửng hồng, tiếng chim hót líu lo khiến tôi tỉnh giấc, không thấy mẹ bên cạnh, tôi biết, mẹ đã ra sân bay cho kịp chuyến bay sớm đi Hải Phòng. Không còn những hờn giận, vùng vằng, không còn những giọt nước mắt … vì tôi biết, mình đã lớn thật rồi!                                                                                        

Tp. Hồ Chí Minh, ngày 14/12/2012

NGUYỄN NGỌC MỸ HẠNH

Có tin đây là bài viết của bé gái 9 tuổi. Cảm ơn cháu gái, cháu đã cho cậu những góc nhìn mới.

 

My Pictures

NDC
 

Nhận xét

Nội dung trang web
 

Google Translate